TIẾNG HÀN THÚ VỊ · GÓC VĂN HÓA
Tôn giáo tại Hàn Quốc: giữa Phật giáo, Kitô giáo và một xã hội nhiều người không theo tôn giáo
Trên cùng một con phố ở Seoul, người ta có thể đi qua một ngôi chùa, nhìn thấy thánh giá đỏ trên mái nhà thờ rồi nghe một người trẻ trả lời rằng mình không theo tôn giáo nào. Bức tranh ấy không mâu thuẫn. Tôn giáo tại Hàn Quốc được tạo nên bởi nhiều lớp lịch sử: Phật giáo lâu đời, Kitô giáo phát triển mạnh, Nho giáo thấm vào nếp sống và những thực hành dân gian vẫn tồn tại bên cạnh một bộ phận lớn dân số không nhận mình thuộc tôn giáo nào.
Tìm hiểu tôn giáo tại Hàn Quốc qua số liệu mới nhất có thể kiểm chứng, lịch sử Phật giáo và Kitô giáo, ảnh hưởng của Nho giáo, tín ngưỡng dân gian và những từ tiếng Hàn thường gặp.
Photo by Nuhyil Ahammed
Tôn giáo Hàn Quốc trong vài dòng
- Không tôn giáo
- 49% người trưởng thành
- Kitô giáo
- 33% người trưởng thành
- Phật giáo
- 17% người trưởng thành
- Nguồn số liệu chính
- Pew Research Center · Spring 2024 Global Attitudes Survey
- Thời gian khảo sát
- 05/01–22/05/2024
- Ngày rà soát bài
- 07/09/2026
Một xã hội mà nhóm lớn nhất là những người không theo tôn giáo
Tóm tắt nhanh 30 giây
- Khảo sát Pew thực hiện năm 2024 cho thấy 49% người trưởng thành Hàn Quốc không gắn với tôn giáo.
- 33% nhận mình là Kitô hữu và 17% là Phật tử.
- Đây là số liệu khảo sát người trưởng thành, không phải kết quả Tổng điều tra dân số; các con số làm tròn có thể không cộng đúng 100%.
Nếu hỏi “tôn giáo lớn nhất Hàn Quốc là gì?”, câu trả lời cần bắt đầu bằng một điều tưởng như nghịch lý: nhóm đông nhất không phải một tôn giáo cụ thể, mà là những người không nhận mình thuộc tôn giáo nào. Trong Spring 2024 Global Attitudes Survey của Pew Research Center, 49% người trưởng thành Hàn Quốc được xếp vào nhóm religiously unaffiliated; 33% nhận mình là Kitô hữu và 17% là Phật tử.
Tỷ lệ phần trăm trong khảo sát toàn quốc của Pew Research Center, thực hiện 05/01–22/05/2024.
Lưu ý: Biểu đồ chỉ hiển thị ba nhóm có tỷ lệ lớn trong bảng Pew 2024. Các tôn giáo thiểu số vẫn tồn tại tại Hàn Quốc nhưng có quy mô quá nhỏ để được tách thành nhóm riêng trong biểu đồ này.
Nguồn: Pew Research Center, 06/05/2025, dựa trên Spring 2024 Global Attitudes Survey. Pew khảo sát các mẫu đại diện toàn quốc đối với người từ 18 tuổi trở lên. Tỷ lệ được làm tròn nên tổng có thể không đúng 100%.
Con số trên khác đôi chút với khảo sát Đông Á mà Pew thực hiện từ tháng 6 đến tháng 9/2023, khi 52% người trưởng thành Hàn Quốc nói mình không theo tôn giáo, 32% nhận là Kitô hữu và 14% là Phật tử. Sự khác biệt giữa hai bộ số liệu không nên được đọc như một biến động dân số chắc chắn chỉ trong một năm: hai cuộc khảo sát có thời điểm, bộ câu hỏi và thiết kế nghiên cứu khác nhau. Trong bài này, khi cần một “ảnh chụp” hiện tại, chúng ta ưu tiên bộ khảo sát 2024 vì mới hơn.
Mốc chính thức gần nhất có thể dùng làm nền lịch sử là Tổng điều tra năm 2015: 56,1% không có tôn giáo, 19,7% theo Tin Lành, 15,5% theo Phật giáo, 7,9% theo Công giáo và 0,8% thuộc các nhóm khác. Nhưng không nên đặt các tỷ lệ 2015 cạnh số khảo sát 2024 rồi kết luận ngay về “tăng” hay “giảm”, bởi tổng điều tra và khảo sát người trưởng thành khác nhau về đối tượng, cách hỏi và phương pháp.
Không theo tôn giáo không có nghĩa là tách khỏi mọi truyền thống tinh thần
Tóm tắt nhanh 30 giây
Trong nghiên cứu Đông Á của Pew năm 2023, 59% người trưởng thành Hàn Quốc nói họ cảm thấy gắn với “lối sống Nho giáo”; ngay trong nhóm không theo tôn giáo, tỷ lệ này là 58%. Vì vậy “không có tôn giáo” là một câu trả lời về danh tính tôn giáo, không tự động phủ nhận ảnh hưởng văn hóa, nghi lễ hay niềm tin khác.
Trong tiếng Hàn, người không theo tôn giáo thường nói 저는 종교가 없어요. hoặc dùng danh từ 무교. Nhưng một ô “không tôn giáo” trên bảng khảo sát chỉ nói người đó không tự nhận mình thuộc một tổ chức hay truyền thống tôn giáo cụ thể; nó không cho biết toàn bộ cách người đó nhìn về tổ tiên, số mệnh, nghi lễ gia đình hay những giá trị đạo đức đã được truyền qua nhiều thế hệ.
Khảo sát Pew về Đông Á thực hiện năm 2023 cho thấy 59% người trưởng thành Hàn Quốc nói họ cảm thấy có sự gắn kết cá nhân với “lối sống Nho giáo” (유교적 삶의 방식). Ngay cả trong nhóm không gắn với tôn giáo, 58% vẫn nói họ cảm thấy có mối liên hệ như vậy. Đây là một ví dụ rõ ràng cho việc danh tính tôn giáo và ảnh hưởng văn hóa có thể nằm trên hai lớp khác nhau.
Phật giáo: lớp trầm tích lâu đời của văn hóa bán đảo Triều Tiên
Tóm tắt nhanh 30 giây
- Phật giáo có mặt trên bán đảo Triều Tiên từ thời Tam Quốc, ít nhất từ thế kỷ IV.
- Ảnh hưởng của Phật giáo vượt khỏi số người tự nhận là Phật tử ngày nay, hiện khoảng 17% trong khảo sát Pew 2024.
- Chùa, nghệ thuật, kiến trúc và các lễ hội Phật giáo là một phần quan trọng của di sản văn hóa Hàn Quốc.
불교 (Phật giáo) là một trong những truyền thống tôn giáo lâu đời nhất còn hiện diện mạnh trong không gian văn hóa Hàn Quốc. Các nguồn lịch sử thường đặt quá trình du nhập vào thời Tam Quốc: Phật giáo được truyền vào Goguryeo năm 372, Baekje năm 384 và lan rộng tại Silla trong thế kỷ V. Qua nhiều triều đại, Phật giáo để lại dấu ấn trong kiến trúc chùa, tượng Phật, nghệ thuật, văn bản và những địa điểm di sản mà người Hàn hôm nay vẫn tiếp xúc dù có hay không tự nhận là Phật tử.
Đến hiện tại, tỷ lệ tự nhận là Phật tử thấp hơn nhiều so với tầm vóc lịch sử của Phật giáo. Đây là lý do không nên đo ảnh hưởng văn hóa chỉ bằng số người đánh dấu vào một ô tôn giáo. Một người không phải Phật tử vẫn có thể đi chùa vào một dịp đặc biệt, tham quan di sản Phật giáo, dùng những biểu đạt bắt nguồn từ Phật giáo hoặc nhìn lễ Phật đản như một phần quen thuộc của lịch văn hóa quốc gia.
Photo by Kimock
절 là cách nói đời thường chỉ “chùa”; 사찰 là từ Hán-Hàn trang trọng hơn. 스님 dùng để gọi nhà sư theo cách kính trọng. Ngày Phật đản thường gặp dưới tên 부처님오신날 — “Ngày Đức Phật đến”.
Kitô giáo: Công giáo và Tin Lành cùng tạo nên một cộng đồng lớn
Tóm tắt nhanh 30 giây
- Khoảng 33% người trưởng thành Hàn Quốc trong khảo sát Pew 2024 nhận mình là Kitô hữu.
- Cần phân biệt 개신교 (Tin Lành/Protestant) và 천주교 (Công giáo).
- Công giáo được người Triều Tiên tiếp cận qua sách và giới trí thức trước khi có hệ thống truyền giáo ổn định; Tin Lành phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIX.
Nếu Phật giáo gợi đến chiều sâu cổ truyền, Kitô giáo là một trong những nét khiến Hàn Quốc khác đáng kể với nhiều xã hội Đông Á. Trong khảo sát Pew 2024, khoảng một phần ba người trưởng thành Hàn Quốc nhận mình là Kitô hữu. Nhóm này không đồng nhất: hai nhánh lớn cần phân biệt là 개신교 (Tin Lành/Protestant) và 천주교 (Công giáo/Roman Catholicism).
천주교 · Công giáo
Lịch sử Công giáo tại Triều Tiên có một nét đặc biệt: tư tưởng Công giáo đã được một số học giả Joseon tiếp cận qua sách Hán văn từ Trung Quốc trước khi mạng lưới linh mục và truyền giáo được thiết lập đầy đủ. Các văn bản của Matteo Ricci được giới trí thức đọc và thảo luận; đến cuối thế kỷ XVIII đã hình thành một cộng đồng Công giáo bản địa. Quá trình ấy cũng đi qua những giai đoạn bị đàn áp trong triều Joseon.
개신교 · Tin Lành
Tin Lành bước vào giai đoạn truyền giáo có tổ chức vào cuối thế kỷ XIX. Nhà truyền giáo kiêm bác sĩ Horace N. Allen đến Triều Tiên năm 1884; Horace G. Underwood và Henry G. Appenzeller đến năm 1885. Hoạt động của các nhóm Tin Lành từ đó gắn không chỉ với nhà thờ mà còn với trường học, y tế, xuất bản và nhiều tổ chức xã hội trong quá trình hiện đại hóa.
Photo by Saksham Vikram
Các tôn giáo thiểu số: Hồi giáo và những cộng đồng nhỏ khác
Tóm tắt nhanh 30 giây
- Ba nhóm 49% · 33% · 17% trong biểu đồ Pew không bao quát toàn bộ tôn giáo tại Hàn Quốc.
- Tổng điều tra 2015 ghi nhận 98.185 người trong nhóm “tôn giáo khác”, nhưng không tách chi tiết từng cộng đồng nhỏ.
- Hàn Quốc có cộng đồng Hồi giáo; các ước tính hiện có khác nhau và chưa có một con số quốc gia chính thức đủ chi tiết để dùng như tỷ lệ dân số.
Ngoài Phật giáo và Kitô giáo, Hàn Quốc còn có nhiều cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn. Trong Tổng điều tra năm 2015, nhóm “tôn giáo khác” được ghi nhận 98.185 người. Cách phân loại này cho thấy một giới hạn của thống kê: khi nhiều cộng đồng nhỏ bị gom chung vào một ô, ta biết rằng họ hiện diện nhưng khó xác định chính xác quy mô của từng tôn giáo chỉ từ bảng tổng điều tra.
이슬람교 · Hồi giáo
Hàn Quốc có một cộng đồng Hồi giáo thực sự, gồm cả người Hàn và người nước ngoài đang sinh sống, học tập hoặc làm việc tại đây. Seoul Central Mosque tại Itaewon, mở cửa năm 1976, là nhà thờ Hồi giáo trung tâm nổi tiếng nhất và cũng là nơi đặt trụ sở của Korea Muslim Federation. Trong những dịp như Ramadan hay Eid, nơi đây trở thành một điểm gặp gỡ quan trọng của cộng đồng Muslim đến từ nhiều quốc gia.
Một bài viết năm 2025 trên cổng thống kê của Hàn Quốc dẫn các nghiên cứu cho rằng số tín đồ Hồi giáo là người Hàn đã ở mức khoảng 60.000 người; nếu tính cả người nước ngoài cư trú ngắn và dài hạn, cộng đồng Muslim được ước tính ở mức hàng trăm nghìn người. Tuy nhiên, chính nguồn này cũng lưu ý rằng chưa có thống kê quốc gia đủ chính xác để xác nhận một con số duy nhất. Vì vậy bài này không chuyển các ước tính đó thành tỷ lệ phần trăm trên biểu đồ.
이슬람교 = Hồi giáo · 무슬림 = người Hồi giáo/Muslim · 모스크 = nhà thờ Hồi giáo · 할랄 = halal.
Ngoài Hồi giáo còn có các cộng đồng nhỏ thuộc nhiều truyền thống khác, bao gồm những tôn giáo mới hình thành tại Hàn Quốc và các tôn giáo được đưa vào cùng quá trình giao lưu, di cư và quốc tế hóa. Khi chưa có bảng thống kê mới tách chi tiết từng nhóm, cách thận trọng nhất là thừa nhận sự hiện diện của các cộng đồng này mà không gán cho họ một tỷ lệ dân số chưa được xác nhận.
Nho giáo: không dễ xếp vào một ô tôn giáo
Tóm tắt nhanh 30 giây
Nho giáo từng là nền tảng tư tưởng quan trọng của triều Joseon và vẫn ảnh hưởng đến gia đình, nghi lễ, giáo dục và thứ bậc xã hội. Trong khảo sát Pew 2023, 59% người trưởng thành Hàn Quốc nói họ cảm thấy gắn với lối sống Nho giáo, dù rất ít người nhất thiết phải khai “Nho giáo” là tôn giáo của mình.
유교 (Nho giáo/Confucianism) là phần khó nhất nếu ta chỉ muốn chia xã hội thành những “tôn giáo” riêng biệt. Trong lịch sử, đặc biệt dưới triều Joseon (1392–1910), Tân Nho giáo tạo nên hệ thống tư tưởng về giáo dục, gia đình, lễ nghi, quan hệ giữa các thế hệ và trật tự xã hội. Những ảnh hưởng đó tiếp tục để lại dấu vết trong các nghi lễ tổ tiên, cách coi trọng tuổi tác và cả hệ thống kính ngữ trong tiếng Hàn.
Nghiên cứu của Pew công bố năm 2024 cho thấy 59% người trưởng thành Hàn Quốc cảm thấy có liên hệ cá nhân với “lối sống Nho giáo” — tỷ lệ cao hơn mức kết nối với bất kỳ truyền thống tôn giáo hay triết học nào khác mà cuộc khảo sát hỏi tại Hàn Quốc. Điều này không có nghĩa 59% người Hàn “theo đạo Nho”. Nó cho thấy một truyền thống có thể tiếp tục tồn tại như khung văn hóa ngay cả khi không trở thành danh tính tôn giáo trên giấy tờ.
Gia đình và tuổi tác
Trật tự giữa các thế hệ, sự kính trọng người lớn tuổi và vai trò gia đình thường được giải thích một phần qua di sản Nho giáo.
Ngôn ngữ và quan hệ
Kính ngữ 존댓말, cách xưng hô theo vai vế và sự nhạy cảm với tuổi không chỉ là vấn đề ngữ pháp mà còn gắn với quan hệ xã hội.
Muism và tín ngưỡng dân gian: một lớp văn hóa vẫn còn hiện diện
Tóm tắt nhanh 30 giây
- 무속 chỉ các thực hành shaman giáo/tín ngưỡng pháp sư truyền thống; người thực hành nghi lễ thường gọi là 무당.
- 무교 trong đời thường thường nghĩa là “không theo tôn giáo”, không phải từ đồng nghĩa với 무속.
- Khảo sát Pew 2023 cho thấy 38% người trưởng thành Hàn Quốc nói họ đã xem bói trong 12 tháng trước khảo sát.
Trước khi các hệ thống tôn giáo có tổ chức trở thành phần rõ ràng của lịch sử bán đảo Triều Tiên, những thực hành liên quan đến thần linh, tổ tiên, cầu may và pháp sư đã tồn tại dưới nhiều hình thức. Trong tiếng Hàn hiện đại, 무속 thường dùng để nói về shaman giáo/tín ngưỡng pháp sư Hàn Quốc; 무당 là người thực hiện các nghi lễ trong truyền thống này, còn 굿 là một dạng nghi lễ.
Những thực hành dân gian không nhất thiết tạo thành một “cộng đồng tín đồ” có ranh giới rõ như nhà thờ hay chùa. Một người có thể tự nhận không theo tôn giáo nhưng vẫn xem 사주, đi xem bói hoặc quan tâm đến ngày giờ tốt xấu. Trong khảo sát Đông Á của Pew thực hiện năm 2023, 38% người trưởng thành Hàn Quốc nói họ đã nhờ xem vận mệnh trong 12 tháng trước khảo sát — tỷ lệ cao nhất trong năm xã hội được khảo sát trong nghiên cứu đó.
무교 = không theo tôn giáo nào, trong cách nói đời thường.
무속 = shaman giáo/tín ngưỡng pháp sư truyền thống.
Hai từ nhìn khá giống khi phiên âm nhưng nói về hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Photo by HAHAVI
Tự do tôn giáo và sự cùng tồn tại trong một xã hội đa dạng
Tóm tắt nhanh 30 giây
Điều 20 Hiến pháp Hàn Quốc bảo đảm tự do tôn giáo, quy định không công nhận quốc giáo và xác lập nguyên tắc tách biệt tôn giáo với chính trị. Vì vậy bức tranh hiện đại không chỉ có Phật giáo và Kitô giáo mà còn có nhiều tôn giáo nhỏ, tín ngưỡng và người không theo tôn giáo.
Hàn Quốc hiện đại không có một tôn giáo nhà nước. Điều 20 Hiến pháp Đại Hàn Dân Quốc quy định mọi công dân có quyền tự do tôn giáo; đồng thời không công nhận quốc giáo và quy định tôn giáo với chính trị phải được tách biệt. Khung pháp lý này giúp giải thích vì sao trong cùng một xã hội có thể tồn tại những cộng đồng Phật giáo, Tin Lành, Công giáo, các tôn giáo mới, tín ngưỡng dân gian, người Hồi giáo và một nhóm rất lớn không gắn với tôn giáo.
Tuy vậy, “cùng tồn tại” không có nghĩa mọi vấn đề đều đơn giản. Tôn giáo vẫn có thể xuất hiện trong tranh luận xã hội, giáo dục, chính trị, nghĩa vụ quân sự, quyền của các nhóm thiểu số hay cách tổ chức nghi lễ công cộng. Khi tìm hiểu một tranh luận cụ thể, cần tách quyền tự do tôn giáo, hoạt động của tổ chức tôn giáo và quan điểm cá nhân của tín đồ thay vì xem toàn bộ một cộng đồng như một khối thống nhất.
Tiếng Hàn khi nói về tôn giáo
종교가 있으세요?
Bạn có theo tôn giáo nào không ạ?
Đây là câu hỏi có thể dùng khi bối cảnh phù hợp, nhưng tôn giáo vẫn là chủ đề riêng tư đối với nhiều người. Trong giao tiếp thông thường, không cần hỏi nếu thông tin ấy không liên quan đến cuộc trò chuyện. Khi người khác nói mình không theo tôn giáo, có thể đơn giản tiếp nhận câu trả lời thay vì suy đoán họ có hay không có niềm tin tâm linh.
← Lướt ngang để xem
| Tiếng Hàn | Nghĩa tiếng Việt | Gợi ý sử dụng |
|---|---|---|
| 종교 | Tôn giáo | 종교가 있다 / 없다 = có / không theo tôn giáo |
| 무교 | Không theo tôn giáo nào | Thường dùng như một danh từ chỉ tình trạng không có tôn giáo |
| 신앙 | Đức tin, tín ngưỡng | 신앙생활 = đời sống đức tin |
| 불교 | Phật giáo | 불교 신자 = Phật tử/người theo Phật giáo |
| 개신교 | Tin Lành, Protestantism | Dùng khi cần phân biệt với Công giáo |
| 천주교 | Công giáo | 천주교 신자 = tín hữu Công giáo |
| 기독교 | Kitô giáo, Christianity | Nghĩa rộng là Kitô giáo; trong đời thường đôi khi được dùng gần với Tin Lành |
| 유교 | Nho giáo | 유교 문화 = văn hóa Nho giáo |
| 무속 | Shaman giáo/tín ngưỡng pháp sư | Không nhầm với 무교 |
| 무당 | Pháp sư/shaman trong tín ngưỡng dân gian Hàn Quốc | Người thực hiện các nghi lễ như 굿 |
| 이슬람교 | Hồi giáo | 이슬람교 신자 = tín đồ Hồi giáo |
| 무슬림 | Người Hồi giáo, Muslim | Dùng để chỉ người theo Hồi giáo |
| 모스크 | Nhà thờ Hồi giáo | Từ mượn dùng phổ biến trong tiếng Hàn hiện đại |
| 종교의 자유 | Tự do tôn giáo | Khái niệm pháp lý và xã hội |
| 신자 | Tín đồ, người theo đạo | Có thể kết hợp: 불교 신자, 천주교 신자 |
Nếu có tôn giáo
저는 천주교 신자예요.
Tôi là tín hữu Công giáo.
저는 불교를 믿어요.
Tôi theo Phật giáo.
Nếu không theo tôn giáo
저는 종교가 없어요.
Tôi không theo tôn giáo nào.
저는 무교예요.
Tôi không có tôn giáo.
Đọc tôn giáo Hàn Quốc bằng nhiều lớp thay vì một nhãn duy nhất
Một biểu đồ cho biết tỷ lệ tự nhận tôn giáo, nhưng không thể tự mình kể hết lịch sử của một xã hội. Phật giáo hiện diện trong di sản và không gian văn hóa từ hơn một thiên niên kỷ; Kitô giáo tạo dấu ấn sâu trong Hàn Quốc hiện đại; Nho giáo tiếp tục ảnh hưởng đến cách tổ chức gia đình, nghi lễ và quan hệ; Hồi giáo cùng các cộng đồng tôn giáo thiểu số góp thêm những lớp mới cho một xã hội ngày càng đa dạng; các thực hành dân gian vẫn xuất hiện bên cạnh một bộ phận lớn người dân không nhận mình thuộc tôn giáo nào.
Vì vậy câu hỏi “Người Hàn theo đạo gì?” không nên có một đáp án duy nhất. Cách hiểu chính xác hơn là nhìn vào danh tính tôn giáo, lịch sử, nghi lễ và ảnh hưởng văn hóa như bốn lớp có thể chồng lên nhau. Khi học thêm những từ như 무교, 불교, 개신교, 천주교, 유교 và 무속, người học tiếng Hàn cũng có thêm công cụ để đọc xã hội Hàn Quốc bằng chính những khái niệm mà người Hàn sử dụng.
Bạn nhớ được bao nhiêu? 5 câu · khoảng 1 phút · hoàn toàn tùy chọn
Chọn đáp án cho từng câu để kiểm tra những ý chính vừa đọc. Mỗi câu sẽ khóa sau lựa chọn đầu tiên; nếu muốn thử lại, hãy dùng nút “Làm lại 5 câu”. Đây không phải bài thi và không lưu kết quả.
Nguồn tham khảo
- Pew Research Center · Religious affiliation
- Pew Research Center · Spring 2024 Survey Data
- Pew Research Center · Religion in East Asia
- Pew Research Center · Confucianism
- Pew Research Center · Religious practices in East Asia
- 2025 Population and Housing Census
- Ministry of Data and Statistics · 2025 Census
- Statistics Korea · 2015 Census
- National Law Information Center · Constitution Article 20
- Korea.net · Facts About Korea
- 한국민족문화대백과사전 · 개신교
- Ministry of Data and Statistics · Religious minorities
- Korea.net · Islam in Korea
- Pexels - Nguồn hình ảnh



